Cơ khí Quang Trung
PDF In Email

MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

1- Nghiên cứu, lựa chọn đầu tư công nghệ sản xuất vật liệu xây không nung:

UBND tỉnh Bình Định giao cho Sở Xây dựng chủ trì chỉ đạo triển khai đề tài nghiên cứu, phân tích, lựa chọn công nghệ vật liệu xây không nung (VLXKN) để đưa ra mẫu dây chuyền sản xuất mang tính tối ưu và phù hợp với nguồn vật liệu, nhiên liệu sử dụng tại địa phương.

Được biết đến với rất nhiều ưu điểm như bền, rẻ, tận dụng chất thải rắn công nghiệp, không phát khí thải CO2, lộ trình sử dụng VLXKN thay thế gạch nung truyền thống trong các công trình xây dựng đã được Chính phủ ban hành từ năm 2012. Tại Bình Định, UBND tỉnh cũng đã có Chỉ thị số 02/2014/CT-UBND về việc tăng cường sử dụng VLXKN, với lộ trình thực hiện bắt đầu từ năm 2015.

Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 16 dự án sản xuất gạch không nung (GKN) với tổng công suất hơn 250 triệu viên/năm, vốn đăng ký đầu tư gần 50 tỉ đồng. Trong đó, 6 dự án đã đi vào hoạt động, với công suất 10-20 triệu viên/năm. Ông Nguyễn Minh Hiếu, Trưởng phòng Quản lý xây dựng - Sở Xây dựng, cho biết: “Hầu hết các dự án hiện đang áp dụng công nghệ ở mức độ trung bình, chi phí thấp, chủ yếu sử dụng cốt liệu bê tông xi măng (hỗn hợp xi măng, cát và phụ gia). Trong khi đó, dự án sử dụng công nghệ gạch bê tông khí chưng áp của Công ty cổ phần Xây dựng 47 và gạch bê tông nhẹ của Công ty cổ phần Gạch Tuynen Bình Định còn trong quá trình triển khai lắp đặt”.

Công ty cổ phần Cơ khí & Xây dựng Quang Trung là một trong những đơn vị nghiên cứu và đi đầu trong lĩnh vực sản xuất GKN khi đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất GKN vào cuối tháng 3/2013 (tại Lô B1, KCN Phú Tài, phường Trần Quang Diệu, TP Quy Nhơn), tổng vốn đầu tư trên 30 tỉ đồng, công suất lớn nhất tỉnh đến thời điểm này, với 02 máy ép gạch thủy lực tự động (nhiều khuôn mẫu ép GKN), dùng công nghệ PLC, hệ thống phối trộn, xe nâng. Nguyên liệu ban đầu chủ yếu là cát, xi măng, phụ gia… đều sẵn có ở địa phương.

Nói về quy trình công nghệ sản xuất GKN, ông Tạ Bá Sanh, Giám đốc Công ty TNHH MTV Sản xuất Vật liệu Xây dựng không nung Quang Trung (do Công ty cổ phần Cơ khí & Xây dựng Quang Trung làm chủ sở hữu), cho biết, sau khi nguyên liệu được phối trộn, xe gàu múc chuyển đến đổ vào máy ép. Với hệ thống khuôn được lắp đặt sẵn, nhờ máy rung ép thủy lực, với sức ép lớn 200 kg/cm2 tạo nên viên gạch đạt tiêu chuẩn cần thiết về độ nén, độ uốn. Mỗi lần ép máy cho ra 12 viên gạch, cứ liên tục như vậy, hết mẻ này đến mẻ khác, di chuyển đến đâu máy “nhả” ra sản phẩm đến đó rất nhanh chóng, cứ khoảng 10 giây là cho ra một mẻ. Sau đó, hệ thống phun sương tự động được vận hành, làm cho sản phẩm hút được lượng nước nhất định để tăng độ kết dính, bền chắc.

Ưu điểm của GKN là xây nhanh hơn gạch đất sét nung, ít tốn vữa, không cần trát vữa bề mặt tường, chịu được môi trường hay ngập nước, chịu va đập lớn, chống ồn, cách nhiệt rất tốt. Ngoài ra, loại gạch này không cần dùng than, củi, chất đốt từ tự nhiên, không làm ô nhiễm môi trường do khí thải CO2. “Hiện, có nhiều công nghệ sản xuất GKN trong và ngoài nước được sử dụng tại Việt Nam. Hầu hết nguyên liệu sản xuất gạch xi măng cốt liệu được tận dụng từ chất thải rắn công nghiệp như: mạt đá, xi măng, tro bay, xỉ than, cát và các chất phụ gia khác. Do vậy, khâu phối trộn nguyên liệu với tỉ lệ phù hợp tạo ra sản phẩm có cường độ chịu nén, độ cứng và độ chống xuyên nước có vai trò quyết định chất lượng của sản phẩm” - ông Tạ Bá Sanh phân tích.

Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020 của Chính phủ đã đề cập đến các chủng loại sản phẩm tương ứng với từng loại công nghệ sản xuất VLXKN. Lựa chọn công nghệ nào cho phù hợp với khả năng tài chính, yếu tố vật liệu địa phương và triển vọng kinh doanh có tính thực tiễn cao hơn, đảm bảo hơn là việc làm cần thiết.

Ông Nguyễn Minh Hiếu cho biết, mục tiêu của nghiên cứu là phân tích công nghệ đã và đang áp dụng để sản xuất VLXKN trong và ngoài nước; nhận xét và định hướng đầu tư đối với những công nghệ phù hợp nhất để áp dụng trên địa bàn tỉnh; đánh giá về giá thành sản phẩm; đưa ra mẫu dây chuyền sản xuất mang tính tối ưu và đảm bảo nguồn vật liệu và nhiên liệu khai thác ngay tại địa phương để các đơn vị “cân nhắc” đầu tư. Thời gian nghiên cứu tiến hành từ nay đến cuối năm 2017. Trong nghiên cứu, bên cạnh đánh giá thực trạng của các công ty, doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất VLXKN; dây chuyền công nghệ; còn chú trọng đến nguồn vật liệu tại địa phương (cát, bụi đá, phụ phẩm xây dựng, phụ phẩm làm nhiên liệu đốt từ nông nghiệp…) từ đó đánh giá trữ lượng và mức độ sử dụng cho dây chuyền công nghiệp…

(Trích từ nguồn Báo Bình Định)

* Dự án đã thi công hoàn thành:

2- Nhà ở cho công nhân, có diện tích 243 m2 (địa điểm: lô 12Q; 13Q; 14Q, nằm trên đường Nguyễn Công Hoan, thuộc Khu quy hoạch Tái định cư phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định), gồm 02 tầng, với 8 phòng trọ, mỗi phòng đều có công trình phụ + bếp nấu ăn riêng biệt, tổng giá trị đầu tư xây dựng gần 1.000.000.000 đồng VN;

+ Hoàn thành nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng: kể từ ngày 01-5-2015

+ Mức cho thuê hằng tháng đối với CBCNV lao động (chưa kể tiền điện + tiền nước máy sinh hoạt), tạm thu áp dụng đến hết ngày 31/12/2018 là: 300.000 đồng/phòng/04 người

+ Hiện nay, đã sắp xếp bố trí 05 phòng trọ (trong tổng số 8 phòng) cho CBCNV và công nhân lao động đang làm việc tại Công ty được thuê ở và sinh hoạt ổn định cuộc sống an tâm công tác.

3- Trạm trộn bê tông thương phẩm, công suất 60 m3/h;

+ Hoàn thành nghiệm thu đưa vào sử dụng: dự kiến thời gian trong quý III năm 2018

 

4- Dây chuyền sản xuất các loại cấu kiện xây dựng, công suất 160.000 mét SP/năm.

+ Đang quan hệ tìm đối tác để mua và nhận chuyển giao công nghệ.


 

5- Nhà xưởng xây dựng cho thuê, có diện tích: từ 1.500 m2, đến 2.500 m2, phục vụ tốt cho các ngành công nghiệp chế biến nông sản, lưu giữ - bảo quản hàng hóa trong KCN Phú Tài, chờ xuất xuống cảng TP Quy Nhơn hoặc thực hiện trung chuyển giữa 03 vùng miền đất nước.

+ Thủ tục cho thuê nhanh gọn, giá rẻ; hàng hóa lưu kho an ninh được đảm bảo an toàn 24/24h.

6- Đầu tư dây chuyền gá, cắt thép tấm và hàn kết cấu thép tự động: nhận chuyển giao công nghệ từ đối tác TP.HCM, đang tổ chức thực hiện lắp đặt và đưa vào sử dụng phục vụ hoạt động sản xuất (thời gian dự kiến bắt đầu từ tháng 8/2017 trở đi).

6.1- Đầu tư mới 01 Xe cẩu 7,5 tấn : tháng 2/2017

6.2- Đầu tư mới 01 Máy cắt tole thủy lực 16mm x 6.000mm : tháng 9/2017

6.3- Đầu tư mở rộng nhà xưởng Phân xưởng Kết cấu thép (thêm 02 gian về phía Tây) phục vụ nhu cầu sản xuất : tháng 03/2018

6.4- Đầu tư mới 01 Hệ thống cẩu tháp phục vụ công tác thi công công trình nhà cao tầng : tháng 03/2018

7- Dự án đầu tư xây dựng nhà Văn phòng làm việc của Công ty, có tổng diện tích sàn xây dựng là 702,75m2 (địa điểm: Lô B6, KCN Phú Tài, phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định), gồm 02 tầng, với tổng giá trị dự toán sau thuế là : 3.041.371.757 đồng VN;

+ Tiến độ thi công (dự kiến): 150 ngày (bắt đầu thực hiện kể từ ngày 08/6/2018).